Sơ lược sự phát triển của ngành nuôi ong

01/04/2014 | Tác giả:  | Lượt xem: 3,462
  Ong mật là loài côn trùng có cánh mỏng đã có mặt lâu đời nhất trên hành tinh chúng ta. Nó có mặt từ trước cả sự ra đời của con người nguyên thuỷ rất lâu (khoảng 50, 60 triệu năm). Đối với các dân tộc cổ xưa, họ đã làm quen với con ong rất sớm.
           Ong mật là loài côn trùng có cánh mỏng đã có mặt lâu đời nhất trên hành tinh chúng ta. Nó có mặt từ trước cả sự ra đời của con người nguyên thuỷ rất lâu (khoảng 50, 60 triệu năm). Đối với các dân tộc cổ xưa, họ đã làm quen với con ong rất sớm.

          Người Tây Ban Nha đã nuôi ong và sử dụng mật ong khoảng 15.000 năm rồi. Các di chỉ khảo cổ tìm thấy ở thành phố Valencia đã chứng minh điều đó.

          Người Ai cập không những biết nuôi ong từ thời Thượng Cổ mà họ còn biết cải tiến cách nuôi ong. Họ không nuôi ong ở những nơi nhất định như những dân tộc cùng thời mà họ lại chuyên chở ong trên các thuyền di chuyển trên dòng sông Nil để đi tìm nguồn mật. Người Ai Cập rất tôn trọng loài ong. Hình ong được khắc trên các đài kỷ niệm, được vẽ vào những lá đơn để tỏ lòng trung thành đối với nhà Vua. Hình ong còn được khắc trên các ngôi mộ cổ của triều vua pharaon, theo Kinh Thánh là một triều đại cổ rất lâu đời tại Ai Cập (3.200 – 2.780 trước công nguyên).

          Tại á châu, dân ấn Độ coi loài ong là những người bạn đường thiêng liêng nhất của chư vị thần linh. Thần Mặt Trời và sự sống (Visnu) tượng trưng bằng hình con ong đậu trên bông sen. Thần Tình ái (Kasma) tượng trưng dây cung của mình bằng một hàng ong nối đuôi nhau.

          Người xưa còn khám phá ra âm thanh của ong: dân Axiria đã dùng một dụng cụ đặc biệt phát ra những âm thanh tưong tự dùng để đuổi ong ra khỏi tổ khi lấy mật ong hoặc gọi ong về khi lấy mật xong thật dễ dàng

          Người Palestine cũng nuôi ong rất nhiều. Trên 4.000 năm về trước, Kinh Thánh thường nhắc tới vùng Khannaan được coi như xứ sở của mật ong.

          Còn đáng ngạc nhiên hơn nữa là người xưa đã dùng cả loài ong vào chiến sự. Hai ngàn năm về trước, dân tộc Aratu và một số dân tộc khác vừa nuôi ong lấp mật, sáp; gặp khi hữu sự họ còn dùng ong để chống quân thù. Thời Thập tự chinh, Hoàng đế Anh Richard I cũng đã từng tung ra chiến trường hàng trăm tổ ong khiến quân Thổ rất dũng mãnh cũng phải khiếp đảm tháo lui trước sức tấn công vô cùng mãnh liệt của các bầy ong. Nói đâu xa, ngày trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, quân dân ta cũng đã tận dụng khả năng cảu loài ong để chống lại các trận càn quét của quân thù.

          - Thoạt tiên, ong sinh sản ở Âu Châu rồi mới lan tràn qua Phi châu, á châu. Tới thế kỷ XVI, ong du nhập vào Bồ Đào Nha, Brazil, Nam Mỹ rồi Trung Mỹ. Năm 1822, ong tới úc châu rồi qua Tân Tây Lan vào năm 1842.

          - Tại nước Nga, nghề nuôi ong phải được kể là lâu đời nhất, qua các di chỉ khảo cổ cho biết mật ong thời bây giờ thu hoạch khá nhiều và còn được xuất khẩu qua Hy Lạp.

Nga cũng là nước đầu tiên áp dụng luật pháp bảo vệ nghề ong với quy luật: “ Kẻ nào phá huỷ cây cối cỏ tổ ong cũng như ăn cắp mật ong đều bị phạt nặng”. Mật ong thời đó có một giá trị đặc biệt đến nỗi người dân có thể dùng mật ong để trao đổi hoặc cho vay kiếm lời. Chính quyền phong kiến đương thời cũng bắt dân trong vùng lãnh địa của mình phải nộp mật ong cho họ. Hằng năm, nghề nuôi ong ở Nga đem lại cho nhân dân trong nước hàng tỷ rup. Nghề nuôi ong thịnh vượng cho tới thế kỷ XVIII thì bị nghề nấu rượu vang và nghề làm đường mía cạnh tranh khiến cho sút giảm nặng nề. Chưa hết, việc tìm ra Mỹ châu cà con đường qua ấn độ cũng lại là duyên cớ khiến nghề ong bị sút giảm thêm vì mật ong từ các xứ khác theo con đường thương mại này đổ vào châu âu mỗi ngày một nhiều.

Nghề ong càng ngày càng bị suy giảm cho đến Cách mạng tháng Mười thành công:

- Trở lại với nghề nuôi ong tại Việt Nam, tổ tiên chúng ta cũng đã biết nuôi ong từ lâu, song nghề nuôi ong của ta không phát triển được vì từ bao thế kỷ qua người làm nghề nuôi ong, săn mật đều là người miền núi. Việc tìm kiếm mật ong và sáp ong chỉ trông vào các tổ ong thiên nhiên có sẵn trong hốc cây hoặc hang đá. Về sau, cũng có người đem ong về nuôi nhưng kỹ thuật nuôi không có, hơn nữa nghề ong chỉ có tính cách phụ trong gia đình, nên sản phẩm lượng mật và sáp thu được không nhiều. Mật ong không đủ dùng cho nhu cầu ngành y còn lấy đâu mà bồi dưỡng. Sáp ong chỉ đủ dùng cho tế tự hoặc thắp sáng cho các nơi quyền quý.

- Từ khi nhà nước được độc lập và thống nhất, nhà nước đã sáng suốt nhận thấy tầm lợi ích to lớn của việc nuôi ong tại các nước tiên tiến. Sản phẩm của ong tuy quí cũng chưa so sánh nổi với những lợi ích bằng thụ phấn chéo của ong trong nông nghiệp. Nhờ ong mà sản lượng, chất lượng của rau, quả, hoa màu tăng thu gấp bội. Năm 1961, ngành Lâm nghiệp và bộ Ngoại thương đứng ra tổ chức nuôi ong nhưng chưa kết quả. Mãi tới năm 1963 bộ Nông nghiệp mới lại tổ chức các cơ sở nuôi ong với sự cải tiến từ ong nuôi đõ tròn sang nuôi bằng thùng vuông có khung cầu di động, đồng thời  dùng thùng quay mật ly tâm thay vì ép mật như xưa.

          - Miền Nam, trong thời gian này cũng nuôi ong nhưng nuôi giống ong ngoại nhập. Năm 1963 đã có lúc ong miền Nam nuôi tới hàng ngàn đàn trong vùng Long Khánh, Lâm Đồng, Bảo Lộc. Khác với giống ong nội địa nuôi ngoài miền Bắc, giống ong ngoại nhập dễ nuôi, ít bốc bay vào cho năng suất mật cao. Miền Nam còn loại ong nữa thường tụ lại theo mùa hoa. Lợi dụng qui luật đó, nhân dân miệt rừng tràm U Minh, trước mua hoa tràm nở, người săn ong chuyên nghiệp chỉ việc lựa các cây tràm nhỏ, rồi gác lên các cây khác với độ nghiêng và phương hướng thích hợp, thế là ong tứ phía bay tới và làm tổ ngày tại nơi gác cây có sẵn. Săn ong kiểu này, người ta gọi là nghề săn ong gác kèo. Đàn ong ở lại tổ qua mùa hoa. Khi hoa hết, Ong lại dời kèo bay đi, người săn ong thu tổ ong đẻ ép mật và lấy sáp. Giống ong di trú này khó thuần hoá và cho năng suất mật không cao.

          - Nghề ong nước ta gặp nhiều khó khăn hơn thuận lợi, khó khăn do dịch hoạ và thiên tai tác động. Nhiều nơi, trại ong cũng bị bom đạn gây thiệt hại nặng nề. Còn phải kể đến thiên tai bão lụt cũng đã làm cho nhiều trại ong hầu như trắng tay.

          - Tuy nhiên, nhờ sự khuyến khích và nâng đỡ của Nhà nước, nhờ lòng kiên nhẫn và yêu nghề sẵn có, nghề nuôi ong nước ta dần dần phục hồi trở lại và hiện đang trên đà phát triển tốt. Hàng năm ngành nuôi ong đã cung cấp cho Nhà nước hàng ngàn tấn mật ong, hàng trăm nghìn kilô sữa chúa cùng các sản phẩm phụ khác để bào chế dược phẩm, mỗi năm làm giảm cho Nhà nước một số ngoại tệ đáng kể dùng vào việc nhập khẩu mật ong. Cũng kể từ đó trở đi, kế hoạch sản xuất mật ong hàng năm đã được chính thức ghi vào chi tiêu kế hoạch nhà nước. Chỉ thị số 37, Thủ tướng Chính phủ ngày 06/04/1968 đã công nhận nuôi ong là một ngành sản xuất trong nông nghiệp.

Hội nuôi ong Việt Nam chính thức hoạt động từ ngày 01/06/1981 và đã gia nhập Hội Nuôi Ong Quốc tế từ tháng 10/1981. Kể từ đây, Việt Nam đã có 73 nước bạn bè, trong đó có những hội viên đã từng là những nước có nghề nuôi ong phát triển từ lâu đời, để trao đổi kinh nghiệm. Với thuận lợi đó, rồi ra chúng ta sẽ thành công trên lãnh vực này.

Back to Top

Design by IGF