Những điều chưa biết về nọc ong

23/05/2014 | Tác giả:  | Lượt xem: 2,796
 Nói tới mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa chúa chúng ta không thể không nói tới nọc ong.
 Nói tới mật ong, sáp ong, phấn hoa, sữa chúa chúng ta không thể không nói tới nọc ong.
    Qua nhiều cuộc thử nghiệm khoa học đã xác nhận: Nọc ong là một vị thuốc quý, chữa trị được nhiều bệnh khó trị đối với y học hiện đại như: Hen suyễn, thấp khớp, huyết áp.... Nhiều cuộc điều tra cho biết người nuôi ong rất ít mắc các bệnh kể trên hoặc các bệnh nhiễm trùng khác, mặc dầu tuổi đã cao mà hoạt động thần kinh của họ vẫn tốt. Có phải vì người nuôi ong thường bị ong chích hàng ngày đó chăng?    Vậy nọc ong như thế nào?
    Nó là một chất trong, có mùi rõ rệt giống mùi mật ong, vị đắng, nóng, tỉ trọng 1,1313. Nọc có phản ứng axit nếu nhỏ nọc ong lên giấy quỳ xanh nó sẽ hoá đỏ. Sau khi phân tích người ta thấy trong nọc ong có axit Focmic; axit clohydric, ôctphosphoric có histamin, cholin, tryptophan, lưu huỳnh và nhiều chất khác nữa.
    Nọc ong khi khô trông giống như gôm ả Rập, dễ hoà tan trong nước và trong axít. Tuy nhiên dung dịch sút ăn da và axit clohydric không phá huỷ được nọc ong. Hoạt tính của nọc ong bị giảm đi dưới tác dụng của kali – permanganat và của các chất oxy hoác khác.
    Người ta lại còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy sức chịu nhiệt của nọc ong rất cao. Đun nóng nọc ong ở nhiệt độ 100oC , nọc ong vẫn không bị phá huỷ. Ngược lại đối với nọc rắn chỉ cần đun tới 72o C là nọc rắn lục xanh bị mất hẳn tác dụng rồi. Nọc ong cũng còn chịu được lạnh cao. Làm đông lạnh nọc ong vẫn còn giữ được tính chất ban đầu của nó. Nọc ong được chứa trong hai tuyến cùng dẫn tới kim chích – tuyến bên phải chứa chất axít lỏng còn tuyến bên trái chứa chất kiềm lỏng. Sau khi chích, ong mật bị chết vì kim chích của ong mật có 12 ngạch xếp theo hình cái xiên, khi đốt xong kim chích vướng những cái ngạch xiên nó bị đứt kéo theo cả bầu đụng nọc ra ngoài. Nọc ong có tính chất kháng sinh rất mạnh trong số các chất kháng sinh mà chúng ta đã biết từ năm 1946.
Theo y học dân gian, Liên Xô cũng đã sử dụng nọc ong từ lâu để chữa một số bệnh về mắt. Y học hiện đại cũng đã chữa mắt bằng nọc ong như trị viêm mống mắt, viêm mí mắt, đạt kết quả tốt. Ngoài ra, năm 1965, các nhà khoa học Bungari đã thông báo về việc thí nghiệm dùng nọc ong chữa bệnh bằng điện di cho mấy trăm người mắc bệnh thần kinh ngoại vi, bệnh viêm khớp, bệnh thấp khớp ở thời kỳ mãn tính, cấp tính, bệnh hư viêm khớp biến dạng. Kết quả ghi được rất hứa hẹn và cho phép kết luận: Nọc ong đã phong bế đường dẫn truyền thần kinh cảm giác, bằng cách đó nọc ong tạo điều kiện làm giảm đau thần kinh, mở rộng mao mạch, nên đã cải thiện được mô cung cấp máu, kích thích tạo máu, làm giảm cholesteron trong máu. Như vậy, nọc ong quả là một loại dược phẩm quí rất đáng để chúng ta quan tâm sử dụng. Tuy nhiên, việc sử dụng nọc ong cũng phải thận trọng, đặc biệt là đối với trẻ em và một số người già là những người rất nhạy cảm với nọc ong. Trong một số bệnh như lao, đập của tim, đái đường, cơ cứng mạch máu bệnh hoa liễu không được dùng nọc ong. Phải ngừng điều trị ngay bằng nọc ong nếu thấy toàn thân bệnh nhân khó chịu nhiệt độ cao, đau đầu, sốt, mệt nhũng, phát ban kiểu mảy đay, ù tai, rối loạn tiêu hoá.

Back to Top

Design by IGF