Các loại mật ong

17/06/2014 | Tác giả:  | Lượt xem: 3,381
Đề cập tới mật ong, cần phải chia mật ong ra nhiều loại khác nhau, phân biệt theo nguồn hoa, theo khu vực địa lý hoặc theo kỹ thuật thu mật hoa, hoặc theo màu sắc mùi vị.
 Đề cập tới mật ong, cần phải chia mật ong ra nhiều loại khác nhau, phân biệt theo nguồn hoa, theo khu vực địa lý hoặc theo kỹ thuật thu mật hoa, hoặc theo màu sắc mùi vị.
    Theo chuyên môn thì sự phân biệt này chỉ nhằm mục đích ấn định danh xưng thích hợp cho từng loại mật vì đó là nguồn gốc cung cấp mà ong đã lấy được mật tạo thành.
    Theo nguồn hoa: Là loại mật chủ yếu thu từ một thứ hoa chúng ta thường có mật nhãn, mật vải, mật chôm chôm, mật cao su, mật táo, mật chàm... Trên thực tế loại mật này cũng còn có một ít mật hoa khác lẫn vào nhưng vì quá ít nên không ảnh hưởng mấy đến mùi vị đặc biệt của loại mật chính. Còn loại mật thu từ nhiều loại hoa, thường là mật tổng hợp.
    Theo khu vực địa lý: ở Việt Nam gọi mật theo từng khu vực như mật ong Cao Lạng, Bắc Thái, Minh Hải, Lâm Đông.
    Thực ra đây cũng chỉ là phân loại theo nguồn thức ăn như cây tràm ở Minh Hải, cà phê ở Lâm Đồng, cao su ở Đồng Nai...
    Theo kỹ thuật thu mật:  có 02 loại như sau:
    + Cách 01: Mật tầng: tức là mật ong để nguyên trong bánh tổ đã trám nắp, khi ăn người ta phải cắt sáp.
    Xét nghiệm vi sinh vật cho thấy mật ong để nguyên trong tổ hoàn toàn vô trùng. ăn mật tầng người ta thường có cảm giác như ăn loại kẹo đặc biệt. Lấy loại này thường bằng cách dùng dao hơ nóng cắt bánh tôt đã trám nắp thành từng bánh vuông vắn và đóng gói. Muốn đẹp, người ta dùng chân tầng đã được tẩy thật trắng.
    + Cách 02: Mật quay ly tâm: Đem các khung ong đầy mật (dùng dụng cụ đặc biệt để loại bỏ các nắp) rồi để vào máy ly tâm quay, mật sẽ chảy ra.
    Màu sắc: Có loại không có màu hoặc màu rất nhạt như mật vải, mật quế, mật nhãn. Còn cam. quít, bạc hà, mận mơ, cà - rốt có màu hổ phách rất đẹp. Người giàu kinh nghiệm có thể căn cứ vào màu sắc mà biết cả loại mật hoa chủ yếu.
    Mùi thơm: Một số mật ong có mùi thơm đặc biệt vì mang hương vị của nước hoa quả như mật nhãn, cam, quít, hoa rừng... Mật táo lại khác, khi ngửi thấy mùi thơm nhưng khi nếm mới thấy.
    Mùi vị tuy không phải là yếu tố quyết định chất lượng dinh dưỡng hay tác dụng trị bệnh, nhưng màu sắc và hương vị thường liên quan đến nhau. Màu nhạt thường thơm mùi nhẹ. Màu sẫm thường thơm nồng. Đặc biệt màu sẫm chứa nhiều muối vô cơ hơn mật màu nhạt.Mật sú vẹt không thơm, còn mùi mật thuốc lá rất khó chịu. Cho nên người ta thường quyết định giá thành phẩm do mùi, màu mà nhiều người ưa thích.
    Ngày nay với kỹ thuật tân tiến người ta có thể huấn luyện cho bầy ong đi lấy mật của loại hoa có mùi được ưa chuộng. Cách huấn luyện đơn giản: chỉ cầncho ong ăn xirô, đường có lẫn mật hoa có mùi tuyển chọn trong một hay hai ngày là ong sẽ đi tìm được loại hoa có cùng mùi hoa đã ăn quen, tuy nhiên hoa quả phải ở không quá xa tâm hoạt động của bầy ong.
    Phân loại ong: Cần phải kể tới:
    a. Mật ong thiên nhiên là do nguồn hoa cung cấp: loại mật này được coi là tốt hơn cả. Cách thức chế tạo đã được trình bày ở trên.
    b. Mật ong lấy từ dịch tiết cau côn trùng hay là là mật lá: những loại côn trùng như rận cỏ, bọ rệp, rệp, mạt... sống bằng nhựa cây rồi thải ra trên mặt lá nên người ta gọi là mật lá. Phân tích hoá học được biết nếu mật hoa gồm chủ yếu là các loại đường thì mật lá gồm 70% chất có nitơ và dextrin. Mật thường màu sẫm, quánh, mùi thơm nhẹ nhưng vị khó ưa.
    Mật lá so với mật hoa thì kém xa về tính diệt khuẩn. Nếu mật lá ở lại trong tổ qua một thời gian dài (suốt mùa đông) thì thường độc, ong ăn vào bị ỉa chảy rồi chết. Người ta giải thích rằng vì trong mật lá có nhiều muối khoáng như kali, phốt – pho, lưu huỳnh cho nên có hại. Xander (1931) thông báo về màu sắc của mật lá như sau: Nếu quay mật từ những loại lá lớn có màu sẫm thì mật quay được hầu như đen và hơi xanh. Ngược lại, nếu quay mật từ lá xám thì xanh sẫm. Gần đây, nhà bác học Tiệp Garaxim (1962) đã cho biết rõ hơn và đã xác định trong mật lá có đường rafino, manto, melixito, xacaro, gluco, fructo và còn tới 7 loại đường nữa hiện vẫn còn chưa xác định được. Trong các axit amin do ông tìm thấy có almin, aginin và nhiều chất khác... Cho nên ngày nay người ta đã đặt lại vấn đề là mật là mật lá cần được nghiên cứu lại toàn diện và rất hy vọng trong tương lai nó nhất định sẽ được dùng trong chữa bệnh. Tính diệt khuẩn của mật lá cũng lại được nhiều ý kiến tranh cãi sôi nổi. Người ta cho rằng tuỳ theo từng loại mật lá mà tính diệt khuẩn của nó cũng thay đổi. V.Temnop (1944) cho rằng mật ong từ hoa kinh giới với mật lá, tính diệt khuẩn yếu. Ngược lại, G.OSMan (1954) lại cho rằng ở mật ong rừng hỗn hợp với mật lá thì tính diệt khuẩn của nó lại rất mạnh.

Back to Top

Design by IGF